Luật LĐ CSVN (Bài 2): Đình công

I- BỘ LUẬT LAO ĐỘNG 1994


Mặc dầu không công nhận quyền lập hội nhưng, trên nguyên tắc, luật lao động cho phép đình công. Đoạn chót của điều 7 bộ luật Lao Động năm 1994 xác nhận : ‘’ Người lao động có quyền đình công theo sự quy định của luật pháp ‘’.

“Quy định của luật pháp” nằm trong các điều 172, 173, 174, 175, 176, 177, 178 và 179 của bộ luật LĐ 1994 nói trên và có thể được tóm tắt như sau :

‘’ Đình công là sự ngưng việc tạm thời, tự nguyên và có tổ chức của tập thể lao động để giải quyết tranh chấp lao động tập thể. Đình công phải đươc quyết định bởi Ban Chấp Hành Công Đoàn Cơ Sở sau khi được đa số lao động chuẩn nhận bằng chử ký.

Không được đình công ở một số doanh nghiệp cung ứng các sản phẩm và dịch vụ công ích, doanh nghiệp thiết yếu cho nền kinh tế quốc dân hoặc an ninh quốc phòng, theo danh mục do chính phủ quy định.

Đình công được coi là bất hợp pháp nếu không xuất phát từ tranh chấp lao động. Tòa án nhân dân có tiếng nói sau cùng để chấm dứt đình công và tranh chấp lao động.

Nếu đình công trở thành một hiểm họa nghiêm trọng cho nền kinh tế quốc gia hay cho an ninh công cộng thì thủ tướng chính phủ có quyềì hoãn lại hoặc chấm dứt đình công.”

Với sự quy định này, 10 điều khoản nói trên đã nằm yên trong bộ luật Lao Động của CSVN từ năm 1994 cho đến ngày 29 tháng 11 năm 2006, mới được sửa đổi và bổ sung do luật số 74/2006/QH11 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2007.

Đạo luật số 35/2002/QH10 năm 2002 có 56 mục bổ sung và sửa đổi luật Lao Động năm 1994, nhưng không sửa đổi các điều khoản về đình công.

II- BỘ LUẬT LAO ĐỘNG 2006


Luật số 74/2006, ra ngày 29/11/2006, hiệu lực từ 01/7/2007, quy định chi tiết và chặt chẽ hơn về vấn đề đình công, nhưng chặt chẽ hơn đối với người lao động chứ không phải đối với người sử dụng lao động. Những điều khoản mới của luật 74/2006 có thể viết lại vắn tắt như sau :

‘’Điều 172a :Đình công phải do BCH công đoàn cơ sở hoặc do BCH công đoàn lâm thời tổ chức và lãnh đạo. Đối với doanh nghiệp chưa có BCH công đoàn cơ sở thì việc tổ chức lãnh đạo đình công phải do đại diện được tập thể lao động cử và việc cử này đã được thông báo với công đoàn cấp trên.

Điều 173bổ sung : Cuộc đình công thuộc một trong những trường hợp sau đây là bất hợp pháp : không phát sinh từ tranh chấp lao động tập thể – không do những người cùng làm việc trong một doanh nghiệp tiến hành – khi vụ tranh chấp lao động đang được hay chưa được giải quyết – không lấy ý kiến của người lao động theo luật định – không tuân theo luật về tổ chức và lãnh đạo đình công – tiến hành tại các doanh nghiệp không được đình công – khi đã có quyết định hoặc ngưng đình công của thủ tướng chính phủ.

Điều 174a : Việc lấy ý kiến để đình công phải theo quy định sau đây : Đối với doanh nghiệp có dưới 300 lao động thì lấy ý kiến trực tiếp của người lao động, – đối với doanh nghiệp có trên 300 lao động thì lấy ý kiến của thành viên BCH công đoàn cơ sở, tổ trưỏng tổ công đoàn và tổ trưởng tổ sản xuất – trường hợp không có công đoàn cơ sở thì lấy ý kiến của tổ trưởng, tổ phó tổ sản xuất.

Điều 174b ; Quyếnt định đình công phải có sự đồng ý của trên 50% tổng số người lao động nếu doanh ngiệp có dưới 300 lao động. Con số này là trên 75% nếu doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp có trên 300 lao động.

Điều 175 : Tranh chấp lao động tập thể do Hội Đồng Trọng Tài Lao Động giải quyết. Nếu một hoặc cả hai bên không đồng ý với Hội Đồng Trọng Tài thì có quyền yêu cầu Tòa Án Nhân Dân giải quyết.

Điều 177: Tòa án nhân dân có thẩm quyền là tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra đình công. Tòa Phúc Thẩm thuộc Tòa Án Nhân Dân Tối Cao có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công cuả tòa nhân dân cấp tỉnh.

DONATION - HỔ TRỢ UBBV : Quý vị có thể ủng hộ UBBV bằng cách gởi tiền qua PayPal:
Thank you !